Thứ Tư, 29 tháng 9, 2010

Nguyễn Siêu - ngọn bút và đạo học

Ba chữ "Tả thanh thiên" trên ngọn tháp bút hồ Gươm (Hà Nội) của thầy Nguyễn Siêu khi xưa như nói với người đương thời và lớp hậu sinh một điều cốt tử: phải biết trọng sự học, sự hiểu biết. 
Chuyện kể rằng có một cậu học trò ở tuổi 12 đã tự tay làm bức hoành phi treo nơi buồng học của mình với hai chữ "lạc thiên", tức yên vui với đạo trời. Người học trò ấy là Nguyễn Siêu (1799 -1872). Từ thuở ấu thơ đến lúc nhắm mắt xuôi tay với 74 tuổi đời, người thầy này sống trọn vẹn với đạo lý ấy, để lại cho hậu thế cả một sự nghiệp đồ sộ về giáo dục con người và nghiên cứu học thuật, nhưng trước hết là nhân cách sáng chói.
Con người ấy, danh nhân văn hoá ấy đã được người đời sau chung đúc lại trong lời ngợi ca: "Nhất đại Phương Đình bút, thiên thu kiểm thủy biên", tạm dịch là "Một trời ngọn bút Phương Đình, nghìn năm bên hồ Hoàn Kiếm".
Phương Đình là tên hiệu, bút danh của Nguyễn Siêu, cũng là tên một ngôi trường do ông lập ra để dạy học. Ngôi trường ấy được định vị ở khoảng các số nhà 12, 14 ngõ Trại Găng, phố Bạch Mai hiện nay, nhưng chẳng còn dấu tích gì.

Tháp Bút ở hồ Gươm.
Ngọn bút của Phương Đình đã được dùng để chữa bài, sửa văn cho bao lớp học trò và cho cả vua Tự Đức, một thi nhân uyên bác sử sách văn chương, để viết nên hàng nghìn trang thơ, văn, ký, khảo cứu về địa lý, lịch sử, xã hội. Ngọn bút ấy cũng soạn nên bao bản tấu trình gửi về triều đình giãi bày nỗi thống khổ của dân chúng, cùng những kế sách cho quốc thái dân an, để rồi sau đó Nguyễn Siêu bị giáng chức, treo ấn từ quan, lui về dạy học và viết sách.

Ngòi bút ấy đã hoá thành Tháp Bút và Đài Nghiên do ông tạo dựng, như một công trình kiến trúc góp vào quần thể di tích đền Ngọc Sơn, cùng với cầu Thê Húc, trấn Ba Đình. Địa danh này đã trở thành di tích lịch sử văn hoá quốc gia của Thăng Long - Hà Nội, niềm tự hào về đạo lý, truyền thống văn hiến của dân tộc.

Ba chữ "Tả thanh thiên" (viết lên trời xanh) do chính tay ông viết và được tạo trên thân Tháp Bút như để nói với người đương thời và lớp hậu sinh một điều cốt tử: phải biết trọng sự học, sự hiểu biết - một sự học, sự hiểu biết thật ngay thẳng, trong trẻo đến vô cùng. Đó chính là sự minh triết của đạo học.
Về đạo học, Nguyễn Siêu có một câu nổi tiếng: "Xưa nay đạo học không có con đường tắt, và nhà tranh vẫn hay có những người hiền tài". Lấy cái bất biến của đạo lý mà xem xét cái vạn biến của thực tại, mới thấy ý nghĩa thời sự, thâm sâu của những điều mà Nguyễn Siêu chắt lọc ra từ cả cuộc đời theo đuổi sự học, trong đó có hơn 30  năm làm thầy của ông.
Vào đêm giao thừa cũng như trong ngày đầu năm, người Thăng Long - Hà Nội, người Việt từ nhiều miền của đất nước tản bộ quanh hồ Hoàn Kiếm, vãn cảnh đền Ngọc Sơn đều không quên dừng chân, thắp nén hương thành kính để tưởng nhớ tiền nhân, khắc sâu đạo lý sống của dân tộc. 

Nguồn: baodatviet.vn

Vị Nhân Sĩ Đặt Tên Cho Các Phố Hà Nội

Say mê lịch sử dân tộc và dành sự ngưỡng mộ đặc biệt với các anh hùng có công trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân sĩ yêu nước đất Hà thành Trần Văn Lai, khi giữ cương vị Thị trưởng Hà Nội, đã lấy tên tất cả danh nhân mà cụ biết đặt tên cho các con phố Hà Nội.

Hàng triệu người dân Thủ đô vẫn ngày ngày đi về trên những con phố mang tên các danh nhân mà tên tuổi đã gắn liền với lịch sử dân tộc. 4.000 năm đất nước cũng từ đó mà ăn sâu vào con tim, khối óc nhiều người như một lẽ tự nhiên. Nhưng không nhiều người biết rằng, hầu hết con phố ở Hà Nội đều do cụ Trần Văn Lai, một thân sĩ yêu nước giữa thế kỷ 20, từng giữ chức Thị trưởng Hà Nội dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim, đặt tên.
Tầm nhìn chiến lược của một nhân sĩ yêu nước
Tiến sĩ Sử học Dương Lan Hải là con dâu cụ Trần Văn Lai hiện sống trong ngôi nhà cổ tại ngõ Tức Mạc, nơi gia tộc họ Trần sống trong suốt một thế kỷ đầy biến cố qua. Cụ Lai đã mất 35 năm nhưng tất cả những người già trên phố Trần Hưng Đạo vẫn nhắc về cụ với sự biết ơn thành kính và một tình cảm đấy ngưỡng vọng. Trong mắt họ, cụ không chỉ là một bác sĩ nhân đức luôn rộng vòng tay giúp đỡ dân nghèo. Nhưng hơn cả thế, cụ là người đã đặt tên cho hầu hết con phố Hà Nội từ trước Cách mạng Tháng 8, trong đó, có phố Trần Hưng Đạo và cả ngõ nhỏ Tức Mạc nơi cụ đang sinh sống.
Cụ Trần Văn Lai cùng vợ và con.

Trần Văn Lai sinh ra trong một gia đình làm nghề khảm trai có tiếng đất kinh kỳ nhưng cụ lại theo học ngành y và trở thành một bác sĩ có tên tuổi theo nguyện vọng của gia đình. Luôn mang trong mình tư tưởng chống Pháp, nên dù là một bác sĩ tài năng ở nhà thương Phủ Doãn (nay là bệnh viện Việt Đức), người thanh niên Trần Văn Lai từng bị Pháp giam giữ tại nhà tù Sơn La và nhà tù Hỏa Lò với những ngươi như Hoàng Công Khanh, Phạm Khắc Hòe.
Đầu năm 1945, khi Nhật đảo chính Pháp, bác sĩ Trần Văn Lai được mời ra giữ chức Đốc lý Hà Nội (tương đương với chức thị trưởng). Nhận nhiệm kỳ từ 20/7 và kết thúc khi Cách mạng tháng 8 bùng nổ, cụ Lai là thị trưởng đầu tiên và duy nhất của thành phố Hà Nội. Nhưng trong một tháng cầm quyền ngắn ngủi đó, Trần Văn Lai đã làm được một công việc vĩ đại là “thay máu” cho hầu hết các địa danh ở Hà Nội.
Việc đầu tiên mà cụ Lai làm là cho giật đổ hầu hết tượng mà thực dân Pháp đã dựng ở Hà Nội: tượng “mụ đầm xòe” ở vườn hoa Cửa Nam; tượng Sĩ Công Nông Thương ở vườn hoa Canh Nông (nay là vườn hoa India Grandi); tượng Toàn quyền Paul Bert ở vườn hoa Paul Bert (nay là vườn hoa Lý Thái Tổ).
Ít người biết rằng, Hà Nội cũng có một bức tượng Nữ thần tự do mà người dân quen gọi là “mụ đầm xòe”. Đây là bản sao của bức tượng Nữ thần tự do ở Paris và New York, được người Pháp dựng lên ở Hà Nội từ cuối thế kỷ 19, bằng đồng, cao 3 m. Để có chỗ dựng tượng, người Pháp đã cho phá chùa Phổ Giác và một số đoạn thành Hà Nội để lấy đất xây lấp các đầm hồ quanh hồ Gươm. Sau đó tượng được chuyển về vườn hoa Cửa Nam và bị người Hà Nội gọi một cách căm ghét là “mụ đầm xòe”. Sau khi bị cụ Trần Văn Lai ra lệnh giật đổ vào năm 1945, bức tượng này được người dân làng Ngũ Xá đem nấu chảy rồi đúc thành tượng phật.
Về bức tượng Paul Bert, trong cuốn sách “Nhớ một thuở”, nhà văn Nguyễn Công Hoan từng kể lại: “Sau ngày phát xít Nhật hất cẳng Pháp ở Đông Dương 9/3/1945, người Việt Nam được cử làm Đốc lý Hà Nội, bác sĩ Trần Văn Lai tổ chức hạ cái tượng quốc sỉ ấy. Trong những người đi xem có một ông già là Mỹ Ký. Thuở bé, hôm dựng tượng Paul Bert, ông Mỹ Ký có đi xem. Hôm nay hạ tượng, ông lại đi xem. Ông sướng quá ôm mặt khóc nức nở”. Thế mới biết việc làm của cụ Lai đã được người Hà Nội yêu nước nhiệt tình hưởng ứng thế nào.
Tiếp đó, Trần Văn Lai còn tiến hành đổi một loạt tên phố Hà Nội, làm một cuộc thay máu thật sự, để trả lại cho các địa danh Hà Nội những giá trị lịch sử vốn có. Theo nhà văn Tô Hoài kể lại, thì trước đó các phố Hà Nội đều mang tên Tây hoặc những người Việt có công với Tây. Nhưng khi lên cầm quyền, cụ Lai đã đổi hết toàn bộ. Đại lộ Boulevard Carnot được đổi lại thành Phan Đình Phùng, Boulevard Gambetta được đổi lại thành Trần Hưng Đạo, Henri D’ Orleans thành Phùng Hưng, F.Ganier thành Đinh Tiên Hoàng. Riêng các con phố trong khu phố cổ mà tên tuổi gắn liền với các làng nghề đất kinh kỳ, đều được cụ Lai trả lại tên cũ. Những Rue de  Lasoire, Rue Paul Bert, Rue des Cantomas đều trở lại thành Hàng Đào, Hàng Khay, Hàng Ngang một thuở.
Tiến sĩ Dương Lai Hải, con dâu cụ Lai kể rằng, cụ Lai là người rất say mê lịch sử dân tộc và dành sự ngưỡng mộ đặc biệt với các anh hùng có công trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Chính vì vậy, tất cả các danh nhân mà cụ biết, cụ đều đặt tên phố: từ Ngô Quyền, đến Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Bùi Thị Xuân, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học…
Tầm nhìn của Trần Văn Lai đáng nể ở chỗ, những tên phố Hà Nội không lộn xộn như ở các thành phố khác mà đều được đặt một cách có ý đồ. Khu trung tâm quanh hồ Gươm là tên các vị vua Đinh, Lý, Lê. Xa hơn về phía đường Trần Hưng Đạo là khu vực của các danh tướng thời Trần. Ngay cả ngõ Tức Mạc (nằm trên đường Hưng Đạo, trước là ngõ Tân Hưng) cũng là lấy tên theo quê quán của dòng họ Trần. Dọc sông Hồng, thì những Vạn Kiếp, Bình Than, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đều là tên của những vị tướng và những trận thủy chiến nổi tiếng trong lịch sử.
Bị thực dân Pháp gọi là “Trí thức trùm chăn”
Sinh thời, cụ Trần Văn Lai là một người rất kín đáo, điềm đạm nhưng vô cùng nhân hậu. Ngôi nhà của cụ ở ngõ Tức Mạc trong nhiều năm liền là nơi người dân nghèo Hà Nội đến khám bệnh và xin thuốc miễn phí. Người dân quanh phố Trần Hưng Đạo đều yêu quý và tin tưởng cụ. Đến mức mà năm 1946, khi Pháp nổ súng tấn công Hà Nội, không ai bảo ai, việc đầu tiên mà người dân khu phố này làm là chạy đến nhà cụ Lai nhờ che chở.
Suốt thời gian kháng chiến toàn quốc, mặc dù không di tản về vùng kháng chiến, nhưng cụ Lai kiên quyết từ chối mọi lời mời ra cộng tác của chính quyền thực dân Pháp, tỏ rõ quan điểm một lòng ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh. Con trai cụ là Trần Mạnh Chu cũng được cụ cho theo cách mạng về vùng kháng chiến. Thực dân Pháp rất căm ghét cụ, gọi cụ là “trí thức trùm chăn”.
Thời điểm đầu năm 1954, khi ta mở chiến dịch Điện Biên Phủ, thành ủy Hà Nội đã chủ trương vận động trí thức tiêu biểu ký tên vào bản kiến nghị đòi hòa bình, nhằm tạo lên làn sóng đấu tranh công khai, gây áp lực trên mặt trận ngoại giao. Cụ Trần Văn Lai chính là người góp ý về nội dung bản kiến nghị và là người đầu tiên đặt bút ký tên. Tên cụ được đặt hàng đầu trong danh sách các nhân sĩ, trí thức kiến nghị, thể hiện uy tín và ảnh hưởng của cụ trong giới trí thức. Bản kiến nghị đã được luật sư Nguyễn Mạnh Hà ở Paris gửi cho báo Le Monde và L’ Humanité tại Pháp dưới nhan đề “ Les Notabiliter” (những nhân sĩ Hà Nội). Hai tờ báo lớn của nước Pháp đăng bản kiến nghị này đã tạo được tiếng vang lớn trong xã hội Pháp.
Với uy tín, nỗ lực cá nhân và công lao với cách mạng, cụ Trần Văn Lai là một trong bốn nhân sĩ Hà Nội được Bác Hồ tặng chiếc radio sau năm 1954. Khi được mời ra giúp đỡ chính phủ cách mạng, cụ nói: “Tôi trùm chăn với Tây, không trùm chăn với cộng sản”.  Cụ được cử làm Thứ trưởng bộ Thương binh Xã hội (thời đó, cụ Vũ Đình Tụng là Bộ trưởng), rồi làm Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Thành phố.
Với những cống hiến của mình trong việc đặt tên phố, cụ Trần Văn Lai đã để lại những dấu ấn to lớn trong lịch sử Hà Nội thế kỷ 20. Tuy nhiên, dù cụ đã mất 35 năm (từ năm 1975), nhưng không hiểu vì sao chưa có một bằng khen nào ghi nhận về những đóng góp của cụ. Tên cụ vẫn chưa được đặt cho một con phố nào ở Hà Nội...

Nguồn: http://baodatviet.vn/Home/congdongviet/Vi-nhan-si-dat-ten-cho-cac-pho-Ha-Noi/20097/50293.datviet

Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2010

Những Vị Tiến Sĩ Xuất Thân Từ Lính

Trong sách sử có rất các giai thoại về những tấm gương hiếu học, nỗ lực hết mình để vươn lên trên con đường học vấn bất chấp hoàn cảnh khó khăn, địa vị xã hội thấp kém. Hai trong số nhiều nhân vật như vậy là Nguyễn Toàn An và Bùi Xương Trạch.
Nguyễn Toàn An và Bùi Xương Trạch đều xuất thân từ người lính trong quân đội nhà Lê nhưng bằng tài học và sự cố gắng của bản thân đã đỗ đạt, thành danh qua con đường thi cử, trở thành những vị tiến sĩ đức cao, học rộng, có đóng góp nhất định vào sự phát triển văn hóa, trị quốc an dân một thời. Điều thú vị là giữa hai người có một số điểm trùng hợp: xuất thân đều là lính, đều “đổi đời” nhờ một bài thơ, bài thơ đó cùng viết về một chủ đề, cùng được phát hiện bởi vua Lê Thánh Tông, đều đỗ và làm quan dưới triều vị hoàng đế anh minh này
Anh lính hầu làm được thơ hay
Các vị trạng nguyên thời xưa. Ảnh tư liệu minh họa.
Vào một đêm Trung thu trăng mờ, hoàng đế Lê Thánh Tông cùng các đại thần mở tiệc rượu để vua tôi cùng nhau xướng họa văn chương, đàm đạo thơ phú. Nhân cảnh đêm rằm mây đen che phủ, nhà vua bèn đặt cuộc thi thơ với đầu đề là: Đêm Trung thu không trăng. Thế là cả vua lẫn các quan đều trải giấy, cầm bút suy nghĩ để tìm ý thơ hay nhất. Thấy mọi người chăm chú làm bài, một người lính hầu trẻ tuổi đã đánh bạo qùy xuống xin được làm mấy câu thơ về chủ đề này
Các đại thần có mặt trong cuộc thi đều biểu lộ sự ngạc nhiên, vua Lê Thánh Tông cũng bất ngờ trước tình huống này, nhưng ông vẫn truyền mang giấy bút đưa cho người lính để đua tài cùng các đại thần làm cho cuộc thi thơ thêm phần thú vị.
Khi thời hạn nộp bài đã hết, các thành viên tham gia cuộc thi thơ cùng người lính hầu kia cũng hoàn thành xong phần thi của mình. Lúc dâng lên, vua Lê Thánh Tông cầm lấy bài thơ của người lính xem trước tiên, mọi người có mặt khi đó đều hồi hộp quan sát thái độ của nhà vua. Tuy chỉ là bài thơ của một lính hầu viết trên giấy xấu, nhưng vua Lê Thánh Tông rất trân trọng đọc kỹ từng câu, từng chữ rồi với vẻ mặt hài lòng, ngài phán rằng: “Vui thay đất nước thái bình, việc học được chú trọng nên đến anh lính hầu cũng làm được thơ hay. Người đâu, hãy đọc to bài thơ này lên để tất cả cùng nghe!”.
Một viên quan có giọng tốt được chọn để đọc to bài thơ cho tất cả mọi người cùng nghe. Bài thơ có hai câu kết rất hay: “Trăng nay chớ có xem thường/Thu sau trăng sáng như gương giữa trời”.
Bấy giờ các vị văn thần đều kinh ngạc thực sự, không ai còn có thái độ coi thường. Vua Lê Thánh Tông truyền hỏi thì được biết người lính đó tên là Nguyễn Toàn An, quê ở huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, thừa tuyên Hải Dương (nay là thôn Tuyển Cử, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Tuy gia cảnh nghèo khó nhưng vẫn chăm chỉ đèn sách.
Vua rất khen ngợi bèn cho người lính đó về quê học tập thêm nhưng vẫn được hưởng lương lính, ngoài ra vua còn cấp cho một ít tiền làm lộ phí đi đường. Nguyễn Toàn An vui mừng tạ ơn rồi trở về quê dốc chí học hành. Không lâu sau, trong khoa thi năm Nhâm Thìn (1472), Nguyễn Toàn An xếp ở vị trí thứ 2, đoạt học vị Bảng nhãn, khi đó ông mới 22 tuổi. Thế là đất nước lại có thêm một nhân tài và người phát hiện là vị vua anh minh nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử Việt Nam.
Theo ghi chép của lịch sử và giai thoại dân gian, Nguyễn Toàn An còn có tên khác là Nguyễn An, Nguyễn Kim An. Sau khi đỗ đạt, ông làm quan trải nhiều chức vụ, sau được thăng lên đến chức Hàn lâm viện thị thư.
Có câu chuyện về việc vua Lê Thánh Tông bãi bỏ một luật lệnh do có liên hệ đến hoàn cảnh khá buồn của Nguyễn Toàn An. Trong sách Hải Dương phong vật chí của Trần Đạm Trai có ghi: “Cổ thời trọng đạo hiếu đến nỗi luật pháp cấm vợ có thai trong khi tang chế, đến thời Lê Thánh Tông mới bỏ lệ ấy, nhân vì có người tỉnh Hải Dương, huyện Đường An, xã Thời Cử tên là Nguyễn Kim An, thuở nhỏ hàn vi, thời Hồng Đức (1470-1497) làm lính chầu trong cung. Vua thấy có tài cho về đi học, 22 tuổi đỗ Hương cống, rồi thi hội thi đình đỗ Bảng nhãn. Được bổ làm quan ít lâu, về cư tang, giữ trọn ba năm đạo hiếu thì mất, không có con trai, vua cảm thương, từ đó bỏ lệ kia”.
Từ lính cắt cỏ đến vị quan mang tước Quảng Văn hầu
Ở làng Giáp Nhị, huyện Thanh Trì, trấn Sơn Nam (nay thuộc xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội) đến nay còn lưu truyền câu chuyện về sự thành đạt của Tiến sĩ Bùi Xương Trạch (1451 - 1529); điều ly kỳ, hấp dẫn là câu chuyện đó có nhiều điểm giống với câu chuyện về Nguyễn Toàn An.
Bùi Xương Trạch từ nhỏ đã ham học sách, làm thơ cho dù gia cảnh nghèo khó. Theo lệ tuyển binh của triều đình nên Bùi Xương Trạch cũng phải đăng lính và được xung vào đội lính cắt cỏ gánh lên Thăng Long để nuôi ngựa trong cung điện. Một lần ông lên kinh, đúng vào đêm rằm tháng tám, đêm đó vua Lê Thánh Tông cùng một số quan đại thần bình thơ xướng họa thì trăng mờ vì có hiện tượng nguyệt thực; nhân cảnh này vua lấy đó làm đề truyền cho các quan làm thơ vịnh.
Khi biết về chuyện bình thơ, anh lính cắt cỏ cũng làm ngay một bài thơ chữ Nôm dâng lên. Vua Lê Thánh Tông, vị hoàng đế hiếu học và trọng nhân tài cũng không nề hà, phân biệt gì liền mở ra đọc ngay. Bài thơ viết:
Lượt là vằng vặc rạng tơ hào
Phải mịt mù nay vị cớ bao
Nhân bởi hắc vân ngất phủ
Há rằng thỏ ngọc hay lao
Hằng Nga lấy đấy làm rông vát
Thục đế từ nay kẻo ước ao
Mực rằng đêm nay chẳng thấy nguyệt
Thu qua đông đến quế càng cao
.
Bài thơ tuy ngắn mà tả trọn cảnh đêm rằm tháng 8 có nguyệt thực lại gắn với một số tích truyện huyền thoại và đặc biệt ở câu kết nói lên sự lạc quan, tin tưởng chuyện không hay chỉ nhất thời, rồi những điều tốt đẹp vẫn đang ở phía trước, cố gắng vươn lên sẽ như “người bẻ quế” với ý đỗ đạt, thành công.
Vua Lê Thánh Tông đọc xong rất hài lòng bèn cho triệu vào ban khen ngợi, hỏi họ tên quê quán và truyền cho Bùi Xương Trạch được miễn mọi lao dịch, binh lực để về quê dành nhiều thời gian hơn cho việc học hành.
Nếu như thời điểm diễn ra câu chuyện của Nguyễn Toàn An không được ghi lại cụ thể thì trường hợp của Bùi Xương Trạch cũng vậy, chỉ khác ở chỗ là sau này cháu 7 đời của ông là Bùi Huy Bích có đoán rằng theo quốc sử thì năm Hồng Đức thứ 7 (tức năm Bính Thân- 1476) vào đầu canh năm ngày 16 tháng 8 âm lịch có nguyệt thực toàn phần “chắc việc làm thơ vào năm đó”.
Sau khi được về quê, Bùi Xương Trạch càng chuyên chú đèn sách, đến khoa thi Mậu Tuất (1478) ông đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ, năm đó Bùi Xương Trạch vừa tròn 28 tuổi.
Cuộc đời ông được hưởng phúc lâu hơn nhiều so với Nguyễn Toàn An. Từ khi đỗ đạt, Bùi Xương Trạch làm quan trải nhiều chức vụ, ban đầu làm việc ở Hàn lâm viện rồi dần thăng lên Đông các hiệu thư, Đông các học sĩ, Thiên đô ngự sử, Thượng thư bộ Binh, Chưởng lục bộ, Đô ngự sử, Tri kinh diên sự, Tế tửu Quốc Tử Giám. Tổng cộng ông làm quan dưới triều 6 đời vua: Lê Thánh Tông (1460-1497), Lê Hiến Tông (1497-1504), Lê Túc Tông (1504), Lê Uy Mục (1505 - 1509), Lê Tương Dực (1510 - 1516) và Lê Chiêu Tông (1516-1522).
Đến năm Canh Thìn (1520) đời Lê Chiêu Tông, thấy triều chính suy vong, bản thân tuổi đã cao nên Bùi Xương Trạch lấy cớ đau mắt xin về trí sĩ. Ông sống ở quê nhà đến đầu tháng 11 năm Kỷ Sửu (1529) thì mất, thọ 79 tuổi. Triều đình truy tặng hàm Thái phó, tước Quảng quận công và ban tên thụy là Văn Lượng.
Điều đáng nhớ nhất trong cuộc đời Bùi Xương Trạch là câu chuyện về tước hiệu của ông. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, vào tháng 10 năm Tân Hợi (1491) đời Lê Thánh Tông, “vua sai thợ làm cái đình ở ngoài cửa Đại Hưng để làm nơi treo các pháp lệnh trị dân. Làm xong ban tên là Quảng Văn đình. Ngôi đình ấy ở trong Long thành, trước Phượng Lâu, có ngòi Ngân Câu vòng quanh hai bên”. Sau đó vua sai Bùi Xương Trạch soạn bài văn bia cho ngôi đình này gọi là Quảng Văn đình ký ghi lại việc xây dựng và nói lên ý nghĩa của công trình này
Bài ký viết xong được trình lên vua Lê Thánh Tông ngự duyệt, đọc xong hoàng đế đặc biệt khen thưởng liền lấy luôn tên của ngôi đình làm hiệu ban cho Bùi Xương Trạch tước Quảng Văn hầu. 

Nguồn: http://baodatviet.vn/Home/congdongviet/Nhung-vi-tien-si-co-xuat-than-tu-linh/20107/103925.datviet

Chuyện Về Ông Trạng Nguyệt Đất Thanh Trì

Thanh Trì xưa là một huyện thuộc phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng, nay là một huyện ngoại thành Hà Nội. Vùng đất này là quê hương của một vị Trạng nguyên nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, đó là Nguyễn Quốc Trinh hay còn gọi là Trạng Nguyệt.

Nguyễn Quốc Trinh (1625-674) người xã Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, (nay là làng Nguyệt Áng, xã Đại Áng, huyện Thanh Trì, Hà Nội), một trong 22 làng khoa bảng tiêu biểu của cả nước. Cuộc đời của vị Trạng nguyên này có nhiều điểm đáng chú ý.


Trạng nguyên học tập muộn nhất
Hoàn cảnh gia đình Nguyễn Quốc Trinh vất vả, khó khăn, ông mồ côi từ nhỏ nên không được đi học; về sau ông cùng em trai phải sang ở nhờ nhà anh rể, đến năm 17 tuổi phẫn chí mới bắt đầu tìm thầy xin học. Bà chị ông thấy em có chí nên cố gắng tần tảo để có tiền, gạo chu cấp cho em. Là người sáng dạ nên ông học nhanh, văn chương rất hay, đêm nào cũng học hết canh 3 mới đi ngủ; ban ngày đi làm nhưng hễ nghỉ tay là lại đọc sách.
Xét theo sự nghiệp học tập của các Trạng nguyên trong nước thời đó, Nguyễn Quốc Trinh  là người đi học muộn nhất nhưng bằng sự nỗ lực không ngừng, ông đã đạt được học vị cao mà không phải ai cũng có thể đạt được.

Một góc thôn Nguyệt Áng, xã Đại Áng, huyện Thanh Trì. Ảnh: Giaoduc.edu.
Người làm nức tiếng thầy
Là người chăm học nhưng cũng rất ham chơi, một hôm chị Nguyễn Quốc Trinh đến nhà thầy đồ thăm em, khi đi qua đê thì thấy ông không học mà đang chơi diều giấy ở ngoài đồng. Bà chị liền lôi cậu em vào trình với thầy học. Thầy giáo nhìn và nghiêm nghị nói: “Tội anh đáng phạt đòn. Nhân tiện có chị anh sang đây, ta cũng muốn để gia đình biết được sức học của anh. Nay thầy ra một vế đối, nếu anh đối được thì tha, đối không được ta sẽ đuổi về luôn”. Nói rồi thầy đọc: “Bất học, hiếu du, vi tỉ giáo (Mê chơi, chẳng học, quên lời chị). Nguyễn Quốc Trinh không cần nghĩ ngợi, đối ngay: “Đăng khoa, cập đệ, trọng sư danh (Thi đỗ, cao khoa, nức tiếng thầy)”.
Câu đối đó làm cả thầy và chị gái Nguyễn Quốc Trinh hài lòng, vui vẻ. Sau này ông đã thực hiện được đúng lời đối của mình khi đỗ Trạng nguyên.
Không xin chữ để đỗ Trạng
Khoa thi năm Bính Thân (1656) đời Lê Thần Tông, Nguyễn Quốc Trinh cùng em trai là Nguyễn Đình Trụ về kinh ứng thí, tranh khôi đoạt giáp với mục tiêu đỗ đầu, giành học vị cao nhất. Khi đang làm bài, trong đề mục có một đoạn Nguyễn Quốc Trinh quên mất, không làm được liền ngồi suy nghĩ mãi nhưng vẫn không ra. Em trai ông ở lều thi cạnh đó biết thế định đọc cho ông chép nhưng Nguyễn Quốc Trinh thẳng thừng từ chối: “Từ xưa đến nay chưa có người nào đi xin chữ mà có thể tranh Trạng nguyên. Năm nay đỗ đầu thuộc về em, anh khoá tới nêu tên trên bảng vàng cũng chưa muộn”.
Nói xong ông giả vờ bị ốm xin ra khỏi trường khi về nhà học tiếp. Qủa nhiên đúng như lời Nguyễn Quốc Trinh nói, khoa thi năm đó lấy đỗ 6 Tiến sĩ, em trai ông đỗ đầu nhận học vị Đình nguyên đồng tiến sĩ.
Xuất xứ tên gọi “Trạng Nguyệt”
Trở về quê hương ôn luyện thêm kinh sách, đến khoa thi năm Kỷ Hợi (1659) đời Lê Thần Tông, Nguyễn Quốc Trinh lại đề tên ứng thí, lần này ông đỗ Trạng nguyên, đúng như mục tiêu đã đặt ra, năm đó ông 35 tuổi.
Do ngôi làng Nguyệt Áng quê ông có tên Nôm là làng Nguyệt nên dân gian gọi Nguyễn Quốc Trinh là Trạng Nguyệt (ông trạng làng Nguyệt).
“Thiên hạ là tôi đây”
Sau khi đỗ Trạng, Nguyễn Quốc Trinh làm quan đến chức Tả thị lang bộ Lại, tước Liên Trì tử rồi Bồi tụng (Phó Tể tướng). Mặc dù là người tin cẩn của chúa Trịnh Tạc nhưng vốn tính cương trực, khẳng khái, dám chỉ ra điều phải trái của chúa trước triều thần nên ai cũng kính phục Nguyễn Quốc Trinh.
Bấy giờ công việc triều chính vua Lê chỉ là hư vị, thực quyền nằm trong tay chúa Trịnh vì thế một số đời chúa vẫn ngấp nghé cướp ngôi nhưng do nhiều nguyên nhân vẫn chưa dám thực hiện. Đến đời Tây vương Trịnh Tạc (1657-1682), muốn thử xem lòng người có phục không, chúa sai quân lính đắp một cái đài ở Thăng Long đặt tên là đài Thu Thiên. Đài đã được dựng cột đào móng, hình thành với quy mô rất bề thế. Trịnh Tạc cùng một số đại thần đến tận nơi xem xét, trong số đó có Nguyễn Quốc Trinh. Nhìn quang cảnh nguy nga, chúa quay sang hỏi: “Thế nào, ý ông ra sao?”. Nguyễn Quốc Trinh trả lời: “Khải chúa thượng, việc xây đài dựng cột, làm thế nào chẳng được, nhưng như thế này khiến lòng thiên hạ không vui đâu”. Chúa giận tái mặt hỏi lại: “Thiên hạ trăm nghìn người, mỗi người một ý, một mình ông làm sao biết được trăm nghìn bụng?”. Nguyễn Quốc Trinh bình thản đáp: “Thiên hạ là tôi đây, lòng tôi không vui thì biết lòng thiên hạ”.
Chúa nín lặng, không nói gì lên kiệu về cung. Đến tối hôm ấy, một cơn bão nổi lên, mưa gió dữ dội, sét đánh gãy mấy cây cột dài. Được tin báo, Trịnh Tạc cho đó là điềm trời không thuận nên đành bỏ, không cho dựng tiếp nữa.
Vị sứ thần nhanh trí
Năm Đinh Mùi (1667) Nguyễn Quốc Trinh được triều đình phong làm Chánh sứ dẫn đoàn sứ bộ sang nhà Thanh. Biết ông là người giỏi thơ văn, vua Thanh là Khang Hy có lệnh triệu Nguyễn Quốc Trinh vào điện để thử tài. Khi ông đến thì thấy có cả sứ thần Cao Ly ở đấy, vua Thanh sai người mang ra hai chiếc thẻ tre dài chừng hai thước, rộng nửa thước rồi nói: “Hai sứ thần hãy viết tên 100 danh thần của Trung Quốc vào chiếc thẻ, ai viết xong trước sẽ được phong là Lưỡng quốc danh thần (Quan giỏi hai nước), bằng không chỉ là Độn thần (Quan ngu dốt)”.
Thấy sứ Cao Ly chăm chú cầm bút, mài mực viết còn Nguyễn Quốc Trinh vẫn ngồi im lặng tỏ vẻ suy nghĩ nhưng mãi không viết được chữ nào, vua quan nhà Thanh rất ngạc nhiên. Một đại thần sốt ruột hối thúc, ông chỉ cười và nói: “Không có gì phải vội cả, tôi chỉ viết một loáng là xong ngay”. Khi thời hạn nộp thẻ sắp hết, sứ thần Cao Ly cũng sắp hoàn thành phần thi của mình, lúc đó Nguyễn Quốc Trinh mới viết hai dòng chữ lên thẻ tre rồi buông bút. Vua quan nhà Thanh tất thảy đều kinh ngạc không rõ ông trổ tài ra sao, bằng cách nào nên khi hai thẻ tre được dâng lên, vua Thanh cầm ngay chiếc thẻ của Nguyễn Quốc Trinh đọc thấy viết rằng: “Khổng môn thất thập nhị hiền/Vân Đài nhị thập bát tướng”. Nghĩa là: “Cửa Khổng có bảy mươi hai người hiền/Vân Đài ghi hai mươi tám tướng giỏi”.
Ý nghĩa hai câu trên đều dẫn theo tích của Trung Quốc, theo đó vào thời Xuân Thu trong số các học trò của Khổng Tử nổi tiếng tài giỏi nhất có 72 người. Còn Vân Đài là một đài kỷ niệm được xây dựng thời vua Hán Vũ Đế, trên đó có khắc tên 28 danh tướng dũng lược của triều Hán; do đài xây cao vút như chạm đến trời nên mới có tên là Vân Đài (đài mây). Vậy là đã đủ 100 người tài giỏi của nước Tàu.
Đọc xong thẻ tre, vua Thanh tấm tắc khen ngợi tài năng và trí thông minh của Nguyễn Quốc Trinh rồi phán rằng: “Sứ thần nước Nam rất xứng đáng là Lưỡng quốc danh thần”.
Sau khi đi sứ trở về, do có công lớn nên triều đình thăng chức cho Nguyễn Quốc Trinh lên làm Tả thị lang bộ Lại, tước Liên Trì tử.
Chết vì nạn kiêu binh
Cuối thời Lê - Trịnh, quân lính người gốc Thanh Nghệ (Thanh Hóa, Nghệ An), phần lớn là quê ở ba phủ Hà Trung, Thiệu Hóa và Tĩnh Gia (nên còn gọi là lính tam phủ) được coi là thân binh hay ưu binh, nhất binh; “được vua chúa tin dùng làm quân túc vệ bởi họ đã đóng góp nhiều công lao trong chiến đấu. Chính vì có công lớn, lại được vua chúa nuông chiều, nên họ sinh ra thói kiêu căng, xem thường luật vua phép nước. Cho nên dân chúng thời bấy giờ gọi họ là kiêu binh” (Việt sử tân biên). 
Là người nổi tiếng khẳng khái, cương trực, Nguyễn Quốc Trinh bàn mưu cùng một số đại thần tìm cách kìm hãm kiêu binh nhưng bị chúng biết được đã ra tay giết hại. Sách Việt Nam sử lược cho biết: “Năm Giáp Dần (1674) đời Trịnh Tạc, lính tam phủ tức là lính Thanh, lính Nghệ đã giết quan Tham Tụng Nguyễn Quốc Trinh và phá nhà Phạm Công Trứ.  Năm Tân Dậu (1741) quân ưu binh lại phá nhà và chực giết quan Tham Tụng Nguyễn Quý Cảnh”.
Sau Nguyễn Quốc Trinh bị hại, triều đình thương tiếc cho lập đền thờ, phong ông làm Thượng đẳng phúc thần, lại truy tặng chức Binh bộ thượng thư, tước Từ quận công, đặt tên thụy là Cương Trung. 

Nguồn: http://baodatviet.vn/Home/congdongviet/Chuyen-ve-ong-Trang-Nguyet-dat-Thanh-Tri/20109/111803.datviet

Vị Trạng Nguyên Nhờ Vợ Mà Đỗ Đạt

Trạng nguyên Vũ Tuấn Chiêu (1423 - ?) còn có tên khác là Vũ Tuấn Thiều, người làng Nhật Thiên, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên (nay thuộc phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, Hà Nội). Trong sử sách ông được biết đến là người may mắn nhờ vợ mà đỗ đạt.

Vũ Tuấn Chiêu Vũ Tuấn Chiêu còn có quê gốc ở làng Xuân Lôi, xã Cổ Ra (nay thuộc xã Nam Hùng, huyện Nam Trực, Nam Định). Tuy ông có mặt mũi khôi ngô nhưng học hành tối dạ, hơn 10 năm đèn sách, tuổi đã ngoài tứ tuần mà học vẫn không tiến bộ, ngày ngày vẫn cắp sách đến lớp, ngồi học cùng đám hậu sinh tóc còn để chỏm nên có lúc lấy làm chán nản. Vợ ông là bà Trần Thị Chìa biết chồng học hành kém cỏi nhưng vẫn kiên trì khuyên nhủ chồng cố gắng dùi mài kinh sử. Có lần thầy giáo gọi bà đến trả chồng về, không cho học nữa vì kém quá, để làm ruộng còn hơn; bà Chìa đã lấy hình ảnh nước chảy làm mòn cột chống cây cầu đá bắc qua con nước gần làng để động viên chồng kiên trì, chăm chỉ sẽ làm nên.
Nghe lời vợ, Vũ Tuấn Chiêu xin thầy cho ở lại học tiếp, quyết chí học hành để không phụ công ơn dạy dỗ của thầy, của vợ. Từ đó, trong vòng 5 năm, bà Chìa tuy tóc đã hoa râm, lưng còng vì gánh nặng việc đời vẫn đều đặn gồng gánh đem gạo, mang dầu thắp đèn từ nhà đến nơi trọ học cho chồng cho đến khi lâm bệnh mất, năm đó Vũ Tuấn Chiêu đã gần 50 tuổi. Sự thành đạt của ông sau này có đóng góp không nhỏ của người vợ hiền.

Quang trạng ngày xưa. (Ảnh minh họa).
Trong lịch sử Việt Nam, Vũ Tuấn Chiêu cũng là một trong ba vị trạng nguyên già nhất, những người này đều đỗ khi đã 50 tuổi. Ngoài ông ra còn có Nguyễn Đức Lượng, người xã Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Thanh Oai, Hà Nội) đỗ Trạng nguyên khoa thi năm Giáp Tuất (1514) đời Lê Tương Dực và  Nguyễn Xuân Chính, quê ở làng Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (này là Tiên Sơn, Bắc Ninh), đỗ Trạng nguyên  khoa thi năm Đinh Sửu (1637) đời Lê Thần Tông.
Bài văn sách tại kỳ thi Đình của Vũ Tuấn Chiêu hiện vẫn được lưu lại trong cuốn gia phả của họ Vũ ở phường Nhật Tân gồm 23 trang, mỗi trang 8 dòng, mỗi dòng từ 4 đến 31 chữ. Nội dung là những kiến giải của Vũ Tuấn Chiêu về những điều mà  vua hỏi. Trong đó ông cho rằng: “Binh mạnh thì trong nước yên ổn, bên ngoài thần phục, nước sẽ vững như bàn thạch. Dân giàu thì lễ nghĩa được thi hành, giáo hóa cũng theo đó trở nên tốt đẹp. Mà muốn cho binh mạnh phải chọn tướng giỏi và nên “dùng nhà Nho để cai quản việc quân thì quân sẽ mạnh”, những nhà Nho đó không chỉ học rộng văn hay, thông kinh bác sử mà phải có lòng dũng khí, cố gắng quên mình.
Còn muốn dân giàu thì cũng cần “dùng Nho để chăn dân, nhưng phải dùng kẻ Nho có phẩm chất, có tác dụng. Giảm bỏ kẻ ăn không, bớt chi tiêu phung phí, thực hành chế độ tiết kiệm để của cải sinh sôi, muôn họ giàu có. Vậy lo gì nước không giàu”.
Vũ Tuấn Chiêu còn được biết đến là một trong những sĩ tử có quyển thi xuất sắc vào năm thi Ất Mùi (1475). Ngang tài với ông còn có hai người còn lại là Cao Quýnh (người đỗ đầu thi Hội) và Ông Nghĩa Đạt. Vua Lê Thánh Tông thấy ba người tài năng như nhau, khó xếp hạng người trên kẻ dưới trong bảng Tam Khôi nên đã ra thêm một câu đố để thử sức. Vua bảo ba người đoán xem là chữ gì rồi đọc: “Thượng bất thượng (Thượng chẳng ở trên)/Hạ bất hạ (Hạ không ở dưới)/Chỉ nghi tại hạ (Chỉ nghi ở dưới)/Bất khả tại thượng (Bất khả ở trên)”.
Trong khi Cao Quýnh và Ông Nghĩa Đạt đang chau mày suy nghĩ thì Vũ Tuấn Chiêu đoán ra đó là chữ “Nhất”. Vua Lê Thánh Tông thấy ông thông minh, nhanh nhẹn liền chấm đỗ đầu thi Đình, ban cho học vị Trạng nguyên, Ông Nghĩa Đạt đoạt học vị Bảng nhãn, danh hiệu Thám hoa thuộc về Cao Quýnh.
Sau khi đỗ đạt, Vũ Tuấn Chiêu làm quan đến chức Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Lại bộ Tả thị lang. Để có người lo cửa nhà, Vũ Tuấn Chiêu đã tục huyền với bà Nguyễn Thị quê ở làng làng Chèm (xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội); ông bà sinh được 4 người con trai.
Vũ Tuấn Chiêu mất ngày 29 tháng 8, phần mộ táng tại xứ Đồng Xù, xã Phú Xá, huyện Từ Liêm (nay thuộc phường Nhật Tân, quận Tây Hồ). Triều đình truy phong là “Tuấn lương Quang ý tôn thần”, sau gia tặng thêm làm “Dực bảo Trung hưng, Linh phù tôn thần”.
Hiện, tại nhà thờ chính của Vũ Tuấn Chiêu ở xã Nam Hùng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định còn có bia ghi hành trạng và 17 đôi câu đối ca ngợi sự thành đạt và công lao của ông đối với dân với nước. Trong đó có câu: “Hồng Đức văn chương khôi nhất giáp/Xuân Lôi trở đậu lịch thiên thu”. Nghĩa là: “Đời Hồng Đức văn chương nêu nhất giáp/Đất Xuân Lôi thờ cúng nghìn thu”.

Nguồn: http://baodatviet.vn/Home/congdongviet/Vi-trang-nguyen-nho-vo-ma-do-dat/20109/110379.datviet

Chuyện Đời Ly Kỳ Của Trạng Lường

Lương Thế Vinh (1441-1495) từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng, rất giỏi tính toán, không sách nào không đọc, am tường nhiều việc. Là một người đầy tài năng nên xung quanh cuộc đời ông được bao phủ bằng nhiều truyền thuyết lạ.

Lương Thế Vinh tự là Cảnh Nghị, hiệu là Thụy Hiên, người làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện Nghĩa Hưng, Nam Định).

Tương truyền khi Quang Thục hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao lúc còn mang thai vua Lê Thánh Tông nằm mơ được lên Thiên đình. Bà thấy Thượng đế sai tiên đồng giáng xuống làm vua nước Nam, tiên đồng xin cho thêm một bề tôi giỏi để phù giúp. Thượng đế liền bổ một viên tì tướng nhưng viên tì tướng đó từ chối, Thượng đế nổi giận ấn mạnh vào vai và bắt phải nhận lệnh. Sau khi Lê Thánh Tông lên ngôi, Thái hậu có kể lại cho vua giấc mộng lạ đó. Đến khoa thi Qúy Mùi (1463) Lương Thế Vinh đỗ Trạng nguyên, lúc vào yết kiến, vua thấy vai ông bị lệch bèn đem chuyện đó nói với Thái hậu. Thái hậu cho gọi ông vào xem mặt thì thấy đúng là người đã gặp trong mộng, bà vui mừng nói với vua: “Đây chính là người bề tôi mà Thượng đế cử xuống”.


Từ đó Lê Thánh Tông rất mực tin dùng, coi trọng tài năng của Lương Thế Vinh, một nhân tài hiếm có. Thật đúng là vua tôi khánh hội, một bước chẳng rời.

Chân dung Lương Thế Vinh (tranh lụa).
Lại có chuyện ly kỳ khác về việc đầu thai của Lương Thế Vinh, chuyện này được ghi lại trong cuốn Kiến văn tiểu lục của Lê Qúy Đôn. Tục truyền, Lương Thế Vinh là sao Văn Khúc từ trên trời giáng xuống nước Nam. Kiếp trước ông đã thác sinh vào một nhà ở huyện Nam Xương (sau này là huyện Nam Ninh, Nam Định), khi lên 7 tuổi được cha mẹ cho đi học; ở bên cạnh đường có con chó đá, mỗi khi thấy cậu học trò này đi qua thì nó lại vẫy đuôi mừng. Cậu bé về kể chuyện với cha, người cha bảo: “Nó đã biết vẫy đuôi thì hẳn nó cũng biết nói. Con hỏi xem vì cớ gì mà nó mừng”. Hôm sau đi học qua, con chó lại vẫy đuôi, cậu bé đứng lại và hỏi, nó nói rằng: “Ngày sau cậu đỗ Trạng nguyên nên tôi mừng vậy”.
Nghe kể lại, người cha bấy giờ tin rằng con mình sau này sẽ đỗ cao, làm quan lớn, từ đó ông sinh kiêu ngạo, thường hay va chạm, tranh chấp với người khác và đe rằng: “Mai sau con ông đỗ Trạng nguyên, ông sẽ hỏi tội chúng mày”. (Người ta cho rằng câu tục ngữ: Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng được xuất phát từ chính câu chuyện này).
Thấy cha như vậy, cậu bé rất buồn, can ngăn mãi mà không được đành nói với mẹ rằng: “Mẹ thì hiền hậu mà cha lại kém đức, con không ở đây nữa. Xin từ giã mẹ, con đi chỗ khác đây!”. Người mẹ ngạc nhiên hỏi: “Sao con lại nói gở thế. Công cha mẹ nuôi con bấy lâu nay, mong ngày sau con thành danh có chỗ để nương tựa. Nay chưa lấy gì trả được ơn cha nghĩa mẹ mà con lại nói lời từ biệt như vậy ?”. Cậu bé vẫn khăng khăng nhất mực xin đi, người mẹ khuyên nhủ thế nào cũng không được đành khóc mà nói: “Con nói phải đi, vậy định đi đâu, hãy nói cho mẹ biết”. Cậu bé dặn mẹ cứ đến ngày ấy, tháng ấy thì tới làng Cao Hương, huyện Thiên Bản thì rõ. Lại còn dặn giữ lại sách vở của mình đã học. Nói xong thì mất.
Bấy giờ người phương Bắc xem thiên văn thấy vận nước Nam đang thịnh, người tài có nhiều, lại thấy Văn Khúc (sao văn học) sáng ngời giáng xuống bèn sai người sang nước ta tìm cách trấn yểm, diệt đi.
Lại nói, khi còn ở Nam Xương cậu bé đi chơi với một lũ trẻ con. Thầy phong thủy người Bắc qua đó, biết sao Văn Khúc ở trong đám trẻ nhưng không rõ là đứa trẻ nào mới đem bỏ một quả bưởi xuống hố sâu, đố lũ trẻ ai lấy lên được sẽ thưởng tiền. Cậu bé không tự mình ra lấy nhưng bày cách cho một bạn đem nước đổ xuống, khi hố đầy nước thì quả bưởi sẽ tự nổi lên.


Người phương Bắc kia gạn hỏi lũ trẻ mới biết được đó chính là mưu của cậu bé, đang nghĩ cách trừ đi nhưng không lâu sau đó thì cậu bé mất. Khi xem thiên văn, biết vị thần ấy đã đi sang làng Cao Hương, ông ta liền đuổi theo thì thấy thần đã nhập vào một khối đá lớn. Nghe người khách lạ hỏi mua, chủ khối đá tưởng hỏi đùa nên nói: “Phải đủ một trăm quan tiền tôi mới bán”. Khách trả đến 70 quan nhưng người chủ không biết thế nào, nghĩ rằng mình bị bỡn cợt, nhất định không bán. Khách thấy vậy liền bỏ đi.
Có một người đàn bà đi làm đồng về, qua đó nghe mọi người bàn tán chuyện có khách lạ hỏi mua khối đá bèn dừng lại rồi đến giậm chân vào khối đá mà nói: “Khối đá này quý gì mà ông ta hỏi mua đắt thế ?”. Không ngờ vị thần ở trong khối đá từ bấy giờ đầu thai ngay vào người đàn bà ấy.
Hôm sau, người khách phương Bắc kia quay lại định mua khối đá cho bằng được, nhưng khi đến biết thần đã xuất mất rồi mới nói rằng: “Bây giờ thì một đồng tôi cũng chẳng mua”. Biết là không thể trấn yểm được nữa, ông ta đành trở về phương Bắc.
Người đàn bà kia sau đó sinh một cậu bé rất rắn rỏi, tinh anh, người cha là Lương Thế Thiện mới đặt tên cho con là Lương Thế Vinh. Lạ một điều, khi mới sinh ra cậu bé ngày đêm chỉ khóc ròng; cha mẹ rồi hàng xóm thay nhau bế ẵm, dỗ dành nhưng không có kết quả.
Còn người mẹ trước, nhớ lời dặn mới tìm đến làng Cao Hương hỏi thăm. Nghe nói có một nhà mới sinh con trai, đứa bé khóc suốt ngày đêm, bà tới gia đình đó xin bế đứa bé trong chốc lát. Lúc này đứa bé mới thôi khóc. Bấy giờ bà kể lại mọi chuyện cho chủ nhà nghe và từ đó thường xuyên qua lại thăm nom Lương Thế Vinh.
Đến khi lớn, một hôm Lương Thế Vinh nói với mẹ trước rằng: “Mẹ về đem sách vở của con thuở trước cùng với số tiền con chôn ở dưới gốc cây táo mang sang đây cho con”.
Bà mẹ trở về đào dưới gốc táo, quả nhiên thấy có tiền liền đem sách và tiền đưa cho Lương Thế Vinh. Cha mẹ đẻ giờ mới thực sự tin, lại thấy người cha trước của con đã mất bèn đón bà mẹ trước về ở cùng.
Câu chuyện đầu thai kỳ lạ của Lương Thế Vinh hư thực thế nào không ai lý giải rõ được. Chỉ biết rằng ông là người được đánh giá có tài “kinh bang tế thế”, “danh vọng vượt bậc”. Khi ông mất, triều đình thương tiếc khôn nguôi, vua Lê Thánh Tông đã ban sắc phong ông làm thượng đẳng phúc thần, hàm Đại vương và lệnh cho dân địa phương lập miếu thờ phụng mãi mãi. Nhà vua còn làm bài thơ điếu, nhan đề Viếng trạng nguyên họ Lương làng Cao Hương: “Chiếu thư Thượng đế xuống đêm qua/Gióng khánh đài cao kíp tới nhà/Cẩm tú mấy hàng về động ngọc/Thánh hiền ba chén thắp hồn hoa/Khí thiêng đã lại thu sơn nhạc/Danh lạ còn truyền để quốc gia/Khuất ngọn tay thần tài cái thế/Lấy ai làm Trạng nước Nam ta?

Năm 22 tuổi Lương Thế Vinh thi đỗ Trạng nguyên khoa Qúy Mùi (1463) đời Lê Thánh Tông, khi xem bài thi của ông, vua phê dòng chữ khen ngợi: Văn phong dồi dào.
Lương Thế Vinh được vua giao trông nom công việc văn quán với chức Tri vinh văn quán, sau lại làm Hàn lâm thị thư chương viện. Các giấy tờ, thư từ giao thiệp với nhà Minh đều do ông soạn thảo.
Vì là người có lắm tài năng đặc biệt, về văn học ông có nhiều bài thơ xướng họa với vua Lê Thánh Tông và các bài thơ khác, những bài thơ này đều được ghi trong các sách Thiên Nam dư hạ tập, Toàn Việt thi lục, Hoàng Việt thi tuyển. Về toán học, ông là người đã sáng chế ra bàn tính gẩy, ban đầu làm bằng những viên bi đất có lỗ được xâu lại, sau cải tiến dần thành những đốt trúc ngắn có sẵn lỗ ở trong, cuối cùng là những viên gỗ tròn sơn màu khác nhau, vừa dễ tính toán, vừa dễ nhớ.
Lương Thế Vinh còn soạn ra cuốn Đại thành toán pháp dạy các kiến thức số học, cách tính dễ hiểu qua những bài thơ Nôm. Điều đặc biệt là cuốn sách của ông được sử dụng làm sách để dạy toán trong các trường học mãi đến thế kỷ 19.
Không chỉ giỏi văn thơ, toán học, Lương Thế Vinh còn tinh thông Phật pháp, điều này được thể hiện rõ nhất qua cuốn Thích điển giáo khoa Phật kinh thập giới (Giải thích 10 điều răn của Đức Phật). Về lĩnh vực nghệ thuật, ông rất thích hát tuồng chèo, say mê âm nhạc, vừa sáng tác lại còn trực tiếp biểu diễn. Sau nhiều năm nghiên cứu, Lương Thế Vinh soạn cuốn Hý phường phả lục nói về nghệ thuật chèo. Ông còn được vua Lê Thánh Tông giao việc cùng với hai quan Thượng thư Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận chế định ra lễ nhạc triều đình.
Khi về trí sĩ, ông vẫn thích cuộc sống phóng khoáng, vui nơi thôn dã, thích ca hát. Ông còn bày cho trẻ con nhiều trò chơi vui nhộn, trong đó có trò múa rối nước, một loại hình nghệ thuật đặc sắc được lưu truyền đến ngày nay.

Nguồn: http://baodatviet.vn/Home/congdongviet/Chuyen-doi-ly-ky-cua-trang-Luong/20109/113100.datviet